Romance de amor spanish

Posted by admin | Posted in Học guitar | Posted on 16-05-2011

http://www.youtube.com/watch?v=0K-zyeLuKho&feature=youtu.be

 

Lòng nhân ái thực sự

Posted by admin | Posted in Thành ngữ/thuật ngữ | Posted on 19-01-2012

Bất cứ ai cũng có thể đem cho những thứ mình bỏ đi. Nhưng lòng nhân ái thực sự là đem cho những gì mình yêu quý nhất.

 


Lương cán bộ, công chức: Nghịch lý thấp và cao

Posted by admin | Posted in Chính tri-xã hội | Posted on 16-02-2012

Tiền lương cho cán bộ, công chức, viên chức chiếm 51% khoản chi thường xuyên của ngân sách Nhà nước, tỷ lệ tăng nhanh song người lao động vẫn không đủ sống.
Đó là nhận định được đưa ra tại cuộc bàn luận về đa dạng hóa nguồn lực cải cách tiền lương của cán bộ, công chức (CBCC) giai đoạn 2011 – 2020 vừa được Viện Chiến lược và Chính sách tài chính tổ chức.
Cải cách tiền lương trong cán bộ, công chức sẽ giúp đối tượng này sống được bằng lương.

 

Sống bằng thu nhập phụ

 

Theo thống kê của Bộ LĐTB&XH, mức lương hiện nay mới chỉ đáp ứng được 65 -70% mức sống tối thiểu của CBCC. Nếu so sánh mức lương tối thiểu năm 2002 là 210.000 đồng/tháng, với hiện nay, tiền lương danh nghĩa tăng 295,2% nhưng chỉ số giá cả hàng hóa tiêu dùng đã tăng 147,2%. Như vậy, tiền lương thực tế sau 9 năm chỉ tăng 59,9%, không theo kịp với đà tăng giá, đặc biệt là nhóm hàng thiết yếu như lương thực, thực phẩm với mức tăng trên 200%.

 

Theo Tiến sĩ Vũ Như Thăng (Viện trưởng Viện Chiến lược và Chính sách tài chính), phương thức trả lương truyền thống mang tính bình quân, cào bằng và chế độ phụ cấp dàn trải khiến tiền lương và vai trò của lương ngày càng thấp. Tổng nguồn ngân sách chi lương không thấp và liên tục tăng, song việc trả lương không phân biệt giữa người làm nhiều với người làm ít khiến lương cán bộ, công chức thấp, khoản chi có tính chất lương lại tăng nhanh.

 

Trong khi đó, thu nhập ngoài lương của một bộ phận công chức lại rất cao, tùy thuộc vào vị trí, lĩnh vực quản lý, vùng, miền, đó là nhận định được đúc kết. Thực tế, có không ít trường hợp, tiền lương không đủ sống, nhưng thu nhập ngoài lương lại rất cao và không có giới hạn, không minh bạch và không kiểm soát được. Đến nay chưa có thống kê đánh giá định lượng cụ thể các khoản cả chính đáng và không chính đáng. Nhiều chuyên gia cho rằng, hiện tượng “thu nhập phụ” trở thành nguồn sống chính của người ăn lương đang làm méo mó các quan hệ tiền lương – tài chính và các quan hệ xã hội, cũng như làm nảy sinh những nhân tố gây ra các tiêu cực và bức xúc xã hội.

 

Theo TS Nguyễn Hữu Dũng (nguyên Viện trưởng Viện Khoa học Lao động và Xã hội), Việt Nam duy trì quá lâu một chính sách tiền lương thấp. Mặc dù đã thực hiện các lần cải cách nhưng luôn bị chi phối tuyệt đối bởi khả năng của ngân sách Nhà nước và gắn chặt với tiền lương tối thiểu. Lương cán bộ công chức vốn đã thấp sẵn lại càng thấp xa so với khu vực sản xuất kinh doanh, điều này chưa đảm bảo cho cuộc sống của họ. Mức lương tối thiểu, chỉ đảm bảo bù được trượt giá.

 

Lương phải đảm bảo tính cạnh tranh

 

Điều đáng bàn là tuy tiền lương Nhà nước quy định trả cho CBCC còn rất thấp nhưng tổng quỹ lương và trợ cấp do ngân sách Nhà nước bảo đảm lại chiếm tỷ lệ khá cao trong tổng chi ngân sách Nhà nước. Điều này dẫn tới thực trạng buộc phải “gọt chân cho vừa giày”. Đây cũng là một trong những nút thắt khó gỡ nhất trong cải cách chính sách tiền lương đối với CBCC vừa qua.

 

TS Dũng cho rằng, “vấn đề là chúng ta không có sự giám sát, không có giới hạn… nên thu nhập của công chức không biết đến bao nhiêu là đủ, trong khi thực tế có bộ phận không nhỏ công chức hưởng lương đơn thuần”.

 

Để cải thiện tình trạng này, các chuyên gia cho rằng, cái cốt vẫn là phải mạnh dạn “sắp xếp và đào thải” công chức, trả lương theo trình độ, công vụ. Nhiều người đưa ra phương án xóa bỏ mức lương tối thiểu, đồng thời với tinh giản bộ máy CBCC cồng kềnh.

 

Theo ông Đặng Như Lợi, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Các vấn đề xã hội Quốc hội: Có thể nói tiền lương công chức, viên chức hiện nay vừa thấp, vừa cao bởi đội ngũ công chức đang phình quá to trong khi số làm việc hiệu quả thực sự lại rất ít. Cần phải tinh giảm 40% CCVC không đủ năng lực, chất lượng theo yêu cầu hiện nay. Chính sách cải cách tiền lương trong thời gian tới phải bảo đảm tính cạnh tranh, giúp CBCC sống được bằng lương. Chỉ khi đạt được mục tiêu này họ mới có thể tận tụy với công việc và dành 100% thời gian và công sức để hoàn thành nhiệm vụ được giao, qua đó góp phần hạn chế tình trạng những bất cập ngoài luồng.

 

Theo Dantri

Khai quật khảo cổ

Posted by admin | Posted in Relax | Posted on 04-02-2012

Mỹ đào xuống đất 500 mét, tìm được một cọng dây đồng. Mỹ vội kết luận “500 năm trước, nước Mỹ đã biết sử dụng cáp đồng”. Đến phiên nước Nhật đào xuống 1000 mét, tìm dc mảnh thủy tinh và cũng vội tuyên bố là “1000 năm trước nước Nhật đã biết sử dụng cáp quang”. Và cuối cùng là Việt Nam, đào xuống 5000 met. Kết quả, ko thấy gì hết, và kết luận một câu xanh rờn “5000 năm trước Việt Nam đã biết sử dụng Wi-fi”

Tất cả những gì ta gửi vào cuộc đời người khác … nó sẽ trở lại cuộc đời của ta

Posted by admin | Posted in Thành ngữ/thuật ngữ | Posted on 04-02-2012

Tất cả những gì ta gửi vào cuộc đời người khác …..
…  nó sẽ trở lại cuộc đời của ta

Đừng e dè đối mặt thử thách. Chỉ khi thử sức mình, bạn mới học được can đảm.

Posted by admin | Posted in Suy ngẫm, Thành ngữ/thuật ngữ | Posted on 04-02-2012

Đừng e dè đối mặt thử thách. Chỉ khi thử sức mình, bạn mới học được can đảm.

Giao thông đô thị, trông người để ngẫm đến ta!

Posted by admin | Posted in Chính tri-xã hội | Posted on 03-02-2012

Không nên dùng các biện pháp “cứng” như thu thêm phí và thuế để bắt người dân giảm đi lại hay mua sắm phương tiện. Mà sự thay đổi thói quen sinh hoạt và văn hóa đô thị cần bắt đầu từ phát triển cơ sở hạ tầng.

Tôi có may mắn là hiện đang sống ở một thành phố có hệ thống giao thông đô thị hiện đại và trật tự vào bậc nhất của nước Mỹ. Ở đây, có đến ba loại phương tiện giao thông công cộng là xe điện nội đô, tầu điện cao tốc và hệ thống xe buýt nhộn nhịp.

Sau một thời gian sống tại đây, thú thực, mỗi khi về Việt Nam, điều làm tôi ái ngại nhất chính là giao thông đô thị ở Hà Nội. Đi xe máy thì nguy hiểm, còn ôtô thì bất tiện vì không có chỗ đỗ. Tình trạng tại nạn giao thông và tắc đường mang đến sự rủi ro thường trực và bất tiện cho người dân.

Mặc dù không thể so sánh Hà Nội với các thành phố ở Hoa Kỳ hay các nước phát triển khác vì trình độ phát triển của Việt Nam đi sau họ có khi cả hàng thế kỷ nhưng những kinh nghiệm và thức tiễn phát triển đô thị của các thành phố này, Việt Nam ta có thể nghiên cứu và học hỏi. Nhiều giải pháp ngắn hạn, dài hạn đã được các Bộ ngành, thành phố và người dân đưa ra trong nhiều năm gần đây.

Nhưng theo tôi, các giải pháp sau đây cần được ưu tiên thực hiện:

Dịch vụ xã hội ở các khu vực ngoại vi thành phố

Đây là giải pháp ngắn và trung hạn nhằm giãn mật độ đi lại trong nội đô. Kinh nghiệm ở Mỹ là cứ xây dựng thêm các khu dân cư, nhà ở mới thì nhất thiết phải có hạ tầng cơ sở kèm theo. Các trung tâm thương mại, trường học, bệnh viện, bưu điện ở các vùng ngoại vi sẽ hạn chế tình trạng dân ở các khu vực này phải di chuyển vào thành phố.

Ví dụ như thời gian gần đây, tại quận Long Biên của Hà Nội, hai trung tâm thương mại tại các khu đô thị mới là Savico Megamall và Vincom Long Biên với Big C, điện máy Mediamart… v.v… đã góp phần giải quyết nhu cầu mua sắm tại chỗ thay vì di chuyển vào khu vực Hoàn Kiếm như trước đây của người dân ở khu vực Long Biện, Gia Lâm, Đông Anh và Bắc Ninh.

Do đó, cần quy định xây dựng các khu dân cư mới phải kết hợp xây dựng song song trung tâm thương mại, trường học, và bệnh viện như Ecopark hay Vincom Village ở Hà Nội là những điển hình tốt.

Việc di dời các trường đại học ra ngoài thành phố là điều cần thiết nhưng phải có sự giúp sức quyết liệt của các thành phố và bộ ngành, nếu không sẽ rất khó tạo động lực cho các trường. Việc phát triển các dịch vụ xã hội ở các đô thị vệ tinh còn giúp cung cấp việc làm cho người dân địa phương nhằm giảm số người vào nội đô làm việc.

Ùn tắc giao thông thường xuyên xảy ra ở các thành phố lớn của VN

Xây dựng các tuyến đường sắt đô thị

Chính phủ cần quyết tâm xây dựng hệ thống đường sắt nội đô trên cao hoặc đường ngầm. Khi so sánh các thành phố trong khu vực châu Á có thể thấy, những nơi có hệ thống đường sắt đô thị tốt hơn như Singapore, Seoul, Quảng Đông thì giao thông cũng thông thoáng hơn Jakarta, Bangkok hay Manila.

Việc xây dựng các hệ thống giao thông này rất tốn kém nhưng với mật độ dân cư lớn và dân số đông như Hà Nội và TP Hồ Chí Minh thì xây dựng các tuyến đường sắt nội đô là yêu cầu tất yếu. Hiện một vài tuyến đang được triển khai xây dựng ở Hà Nội nhưng cần nhận được sự quyết tâm của Chính phủ và thành phố để đảm bảo tiến độ.

Thiết nghĩ, không nên dùng các biện pháp “cứng” như thu thêm phí và thuế để bắt người dân giảm đi lại hay mua sắm phương tiện. Mà sự thay đổi thói quen sinh hoạt và văn hóa đô thị cần bắt đầu từ phát triển cơ sở hạ tầng.

Khi nào người dân thấy việc di chuyển bằng phương tiện công cộng an toàn hơn, tiết kiệm hơn và nhanh hơn thì họ sẽ tự thay đổi nhận thức và văn hóa giao thông. Hãy thử quan sát xem, khi các siêu thị hiện đại mới mọc lên ở các vùng ngoại vi của Hà Nội, sẽ thấy người dân ở các vùng đó dần thay đổi thói quen mua sắm, xếp hàng và thanh toán như thế nào.

Bảng thống kê số tuyến và km đường sắt đô thị tại một số thành phố châu Á đến năm 2011

STT

Tên thành phố

Số tuyến

Số km

Lưu lượng người/ngày (2010)

Năm hoàn thành

1

Tokyo – Nhật Bản

13

305

8.700.000

1927

2

Seoul – Hàn Quốc

10

316

5.610.000

1974

3

Quảng Đông – TQ

5

232

1.850.000

1999

4

Singapore

4

147

1.810.000

1987

5

Đài Bắc (Đài Loan)

8

100

1.270.000

1996

6

Manila – Philippines

3

52

948.000

1984

7

Bangkok (Thái Lan)

3

80

564.000

1999

8

Nam Ninh – TQ

1

85

400.000

2005

Nguồn: World Metro Database, Metro Bits Organisation

Huy động khu vực tư nhân đầu tư

Giải pháp thứ ba là việc huy động các doanh nghiệp tư nhân xây dựng và phát triển cở sở hạ tầng đô thị vì nguồn ngân sách quốc gia còn hạn hẹp. Giải pháp này có thể coi là một đề án nghiên cứu cơ chế và mô hình của các nước khác, làm sao để khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào cơ sở hạ tầng.

Tôi đồng tình với một số ý kiến cho rằng, người dân sẽ sẵn sàng đóng góp cho những dự án cụ thể và tự nguyện nộp phí khi đi trên những con đường rộng rãi và êm ái.

Giải pháp đưa ra hiện nay của Bộ Giao thông Vận tải về thu phí xe máy và ôtô sẽ khó nhận được sự đồng thuận của người dân vì hai lẽ. Một là người dân muốn nhìn thấy những sản phẩm cụ thể và đóng góp của họ có hiệu quả chứ không phải những kế hoạch chung chung, nhất là trước hiện tượng thất thoát lớn và chất lượng thấp ở một số dự án giao thông lớn trong những năm qua.

Hai là, thực tế người dân Việt Nam đã phải đóng thuế rất cao để sở hữu phương tiện cá nhân của mình rồi. Do vậy, với tư cách là đại diện cho người dân, Nhà nước phải có trách nhiệm tiên phong và xây dựng được cơ chế thu hút đầu xây dựng cơ sở hạ tầng. Người dân sẽ đóng phí khi họ thấy được sự thiết thực và hiệu quả của các dự án giao thông đô thị.

Ba yếu tố tiên quyết

Qua theo dõi những quyết định và đề xuất của Bộ Giao thông Vận tải gần đây để giải quyết những bức bách về giao thông đô thị, xin có một số ý kiến.

Giải pháp đưa ra hiện nay của Bộ Giao thông Vận tải về thu phí xe máy và ôtô sẽ khó nhận được sự đồng thuận của người dân vì hai lẽ.

Một là, người dân muốn nhìn thấy những sản phẩm cụ thể và đóng góp của họ có hiệu quả chứ không phải những kế hoạch chung chung, nhất là trước hiện tượng thất thoát lớn và chất lượng thấp ở một số dự án giao thông lớn trong những năm qua.

Hai là, thực tế người dân Việt Nam đã phải đóng thuế rất cao để sở hữu phương tiện cá nhân của mình rồi. Do vậy, với tư cách là đại diện cho người dân, Nhà nước phải có trách nhiệm tiên phong và xây dựng được cơ chế thu hút đầu xây dựng cơ sở hạ tầng. Người dân sẽ đóng phí khi họ thấy được sự thiết thực và hiệu quả của các dự án giao thông đô thị.

Trước hết, xin chia sẻ tâm huyết và hành động cụ thể của Bộ trưởng Đinh La Thăng. Các giải pháp sẽ chỉ là giải pháp nếu tư lệnh ngành không quyết liệt và có trách nhiệm với người dân. Đây là điều kiện cần cho một sự khởi đầu của các giải pháp chiến lược và lâu dài khi mà Việt Nam đã đi sau các nước khác khá nhiều. Bộ trưởng đã có những giải trình trước Quốc hội và trên báo chí về những khó khăn, những giải pháp ngắn hạn và dài hạn nhằm giải quyết các vấn đề cốt lõi. Tuy vậy để thành công thì cần có ba yếu tố tiên quyết:

Thứ nhất, việc giải quyết các vấn nạn giao thông cần sự phối hợp của các bộ ngành và thành phố. Vậy nên, để thành công trước tiên Bộ trưởng cần có sự ủng hộ chính trị của các lãnh đạo cao nhất trong Đảng và Chính phủ. Vì chỉ có sự ủng hộ này, thì việc phối hợp với các bộ ngành và địa phương mới được thông suốt và thực chất. Còn không, sẽ luôn có sự xung đột về lợi ích và ưu tiên giữa các đơn vị, cơ quan.

Thứ hai, Bộ trưởng cần tập hợp bên mình những chuyên gia và cố vấn giỏi, công tâm và có trách nhiệm; có chế độ đãi ngộ tốt với các học giả Việt Nam ở nước ngoài hay các chuyên gia nước ngoài về lĩnh vực giao thông.

Thứ ba, Việt Nam là nước đi sau, nên ở đâu đó trên thế giới, đã có những giải pháp và kinh nghiệm trong phát triển giao thông đô thị. Chúng ta chỉ cần học tập và nghiên cứu những kinh nghiệm đó chứ không nên duy ý chí “sáng tạo” ra những giải pháp mà chưa được kiểm nghiệm trong thực tế. Đó cũng là bài học để giảm chi phí cơ hội trong phát triển của các nước như Singapore, Hàn Quốc, hay kể cả Trung Quốc.

* Nghiên cứu sinh tại Trường đại học Portland State, Hoa Kỳ

Theo TuanVietNam